BÀI ĐĂNG MỚI NHẤT

Rss

30/07/2014
HÀ NỘI: QUYẾT ĐỊNH “GÂY SỐC”!

HÀ NỘI: QUYẾT ĐỊNH “GÂY SỐC”!

Đò Ngang - Để đảm bảo cho người dân Thành phố có nước sạch để sinh hoạt, Ủy ban nhân dân TP. Hà Nội đã đầu tư dự án xây dựng đường ống nước sạch dẫn nước từ sông Đà về Hà Nội, Tổng công ty cổ phần Xuất nhập khẩu và xây dựng (Vinaconex) được giao là chủ đầu.  Tuy nhiên, sau khi đi vào hoạt động, đường ống này thường xuyên xảy ra sự cố. Tính từ tháng 12/2012 đến nay, đường ống này đã vỡ 9 lần, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng nghìn hộ dân trên địa bàn TP. Hà Nội.

Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng (Bộ Xây dựng) đã đưa ra kết luận chính thức về nguyên nhân chính sự cố vỡ đường ống cấp nước. Theo đó, tại Thông báo số 15/TB-BXD ngày 4/7/2014, kết luận giám định nguyên nhân sự cố vỡ đường ống truyền tải nước Sông Đà là do đường ống composit cốt sợi thủy tinh được dùng làm ống dẫn nước có chất lượng không đồng đều và quá trình vận chuyển, thi công, lắp đặt đã gây ra một số tác động bất lợi tới đường ống.
 
Đường ống dẫn nước Sông Đà trong một lần bị vỡ
Để khẳng định sự thuyết phục của kết luận trên, trong cuộc trao đổi gần đây, GS. Trần Hiến Nhuệ (Viện Kỹ thuật nước và Công nghệ môi trường) cũng nhận định: “Các ý kiến cho rằng, nguyên nhân dẫn đến vỡ đường ống nước sông Đà do nền đất yếu là chưa đủ thuyết phục”.

Với những sai phạm nêu trên, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế (C46), Bộ Công an – đơn vị được giao điều tra nguyên nhân sự cố vỡ đường ống nước sông Đà đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Quyết định khởi tố căn cứ theo vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng, theo Điều 229-Bộ Luật Hình sự.

Tại cuộc họp HĐND TP. Hà Nội (ngày 14/7), Phó chủ tịch UBND TP. Hà Nội Nguyễn Quốc Hùng đã khẳng định: “Thành phố không thể để 70.000 hộ dân tiếp tục phải chịu đựng cảnh mất nước do vỡ đường ống. Chúng ta không thể đem người dân ra làm trò đùa được. Vì vậy, Thành phố chỉ đạo Sở Xây dựng, Giao thông - Vận tải, Công ty Nước sạch Hà Nội, các đơn vị liên quan, tập trung tối đa nguồn lực để chủ động có giải pháp mới cung cấp nước sạch ổn định cho nhân dân”. Tức là, TP. Hà Nội sẽ chủ động đầu tư xây đường ống dẫn nước thứ 2, không phụ thuộc vào Vinaconex.

Mặc dù Tổng công ty Vinaconex có dấu hiệu vi phạm về xây dựng, lãnh đạo TP. Hà Nội cũng lên tiếng về việc “mất niềm tin vào Vinaconex”. Tuy nhiên, UBND TP Hà Nội đã khiến nhân dân thành phố không khỏi “sốc” khi vẫn đồng ý để Tổng công ty Vinaconex đầu tư xây dựng tuyến đường ống truyền dẫn số 2 từ QL 21 về đường vành đai 3 thành phố Hà Nội. Đường ống mới này sẽ chạy song song đối diện với hệ thống đường ống cũ đã nhiều lần vỡ trước đó.

Liệu trước quyết định đang gây xôn xao dư luận về đường cấp nước thứ 2, lãnh đạo UBND TP. Hà Nội có dám hứa với các cử tri của mình rằng, họ sẽ không còn phải lo lắng về tình trạng “vỡ Vinaconex” nữa!

Với những gì đã diễn ra đối với đường ống nước thứ nhất, người dân hoàn toàn có quyền thắc mắc rằng: Liệu có gì “không minh bạch” khi cho Vinaconex xây dựng đường ống thứ 2? Thử hỏi có ai lại liều tới mức, cả gan thuê lại người đã từng xây nhà cho mình, nhưng bị đổ tới 9 lần (?!)”.


Rõ ràng UBND TP. Hà Nội cần một lời giải thích thấu đáo cho người dân!!!
26/07/2014
TRI ÂN NHỮNG NHỮNG NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI TỔ QUỐC

TRI ÂN NHỮNG NHỮNG NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI TỔ QUỐC

 [Me Lo] - Vào nhưng ngày này cả đất nước Việt Nam đang hướng tới hoạt động đền ơn đáp nghĩa những gia đình có công với cách mạng, những gia đình có người con hi sinh, những người đã để lại một phần cơ thể lại chiến trường trong cuộc kháng chiến kiến quốc.


Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh



Từ xưa đến nay, truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” luôn được các thế hệ nối tiếp để tri ân những người có công trong cuộc chiến tranh vệ quốc. Đó là một hoạt động thể hiện tính nhân văn sâu sắc, thể hiện lòng thành kính biết ơn đối với các anh hùng liệt sĩ, các thương bệnh binh. 

Khi đất nước lâm nguy, biết bao thế hệ người dân Việt Nam lên đường nhập ngũ ra chiến trường chiến đấu với quân thù. Khi bước vào con đường binh nghiệp, các anh cũng đã xác định sẵn sàng cái tư thế, cái tâm thế sẵn sàng hi sinh để bảo vệ Tổ quốc. 

Đã có biết bao thế hệ “xếp bút nghiên lên đường chiến đấu”, “xe dọc Trường sơn đi cứu nước” mà “lòng phơi phới tuổi thanh xuân”. Cuộc chiến đấu gian khổ đấy, khắc khổ ấy: “Áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá”. Thế nhưng các chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam luôn nghĩ ung dung, hiên ngang và kiên trung: “Xe không có kính không phải vì xe không có kính, Bom giật bom rung kính vỡ mất rồi”. Vậy là trong những phút nguy hiểm nhất các anh vẫn bình thản, vẫn hướng lên chĩa đầu súng vào kẻ thù. 

Cứ thế, cứ thế, biết bao những người con anh dũng của dân tộc Việt Nam đã tạm gác những ước mơ, hoài bão của tuổi trẻ để đi đánh giặc bảo vệ non sông cho chúng ta ngày hôm nay. Và trong số đó có người vĩnh viễn nằm lại sa trường, “áo bào thay chiếu anh về đất”, đến cái chết các anh cũng coi nhẹ nhàng. Chúng ta là thế hệ trẻ của dân tộc Việt Nam, chúng ta may mắn được sinh ra trong thời bình, hãy sống và học tập để trở thành những nhà khoa học, những bác sĩ, công nhân xuất sắc cống hiến cho Tổ quốc. Xưa kia, cha ông ta đã hao tổn tâm sức để bảo vệ Tổ quốc là muốn đem lại cho chúng ta như ngày hôm nay. Hỡi thế hệ trẻ của dân tộc Việt Nam, dân tộc hùng thiêng dũng cảm! Chúng ta phải sống thật nhiệt thành, sống như  chiến đấu để không phí tuổi trẻ!

Xin gửi lời tri ân sâu sắc nhất, sự khâm phục nhất đối với các anh hùng liệt sĩ của Việt Nam, những thương binh, bệnh binh, những người mẹ, người chị, người cha đã dâng hiến người con, người em cho Tổ quốc trong cuộc chiến tranh vệ quốc!

25/07/2014
“LỆ RƠI” VÀ TẤN BI KỊCH CỦA ANH CHÀNG CÓ 02 TẤM BẰNG ĐẠI HỌC CHĂM SÓC VƯỜN ỔI

“LỆ RƠI” VÀ TẤN BI KỊCH CỦA ANH CHÀNG CÓ 02 TẤM BẰNG ĐẠI HỌC CHĂM SÓC VƯỜN ỔI


[Me Lo] - Trên con đường phát triển nghệ thuật nước nhà đã có rất nhiều thành công, có những tác phẩm mà cứ nhắc tới là người dân trên thế giới nghĩ tới đất nước Việt Nam anh hùng và con người Việt Nam mến khách. Tuy nhiên, vẫn có những vết đen của nghệ thuật nước nhà. Gần đây, hiện tượng “Lệ Rơi” được cư dân trên mạng Internet chú ý là ví dụ điển hình.

Chàng nông dân với hai tấm bằng đại học có biệt danh “Lệ Rơi"

“Lệ Rơi” tên thật Nguyễn Đức Hậu, sinh năm 1987, quê Hải Dương. Đây là anh chàng nông dân cóc công việc chính hàng ngày là chăm sóc vườn ổi của gia đình.

“Lệ Rơi” bắt đầu được xã hội chú ý khi hàng loạt các video thể hiện các ca khúc đủ các thể loại, từ nhạc vàng đến nhạc trẻ, từ tiếng Việt đến tiếng Anh, đăng lên mạng.

Mặt khác, Lệ Rơi cũng đã khiến mọi người bị sốc khi biết được sự thật rằng anh có hai bằng tốt nghiệp của ĐH Kinh tế Kĩ thuật Công nghiệp Hà Nội và ĐH Kinh tế Quốc dân.

Khi cả xã hội đang bàn tán xôn xao về “Lệ Rơi” thì chính là lúc anh đã mắc cái bẫy và rơi vào tấn bi kịch cuộc đời anh. Hiện tượng như “Lệ Rơi” chỉ làm cho người ta chú ý đến anh vì anh có vẻ “khác người” mà thôi. Một thời gian sau mọi người sẽ chẳng nhớ và biết anh là ai. Bởi đơn giản cái thứ ca nhạc mà anh có chỉ là trò mới lạ kích thích đến dây thần kinh tò mò của con người mà lúc nào cũng căng lên để đón nhận. 

Tấn bi kịch mà anh chàng nông dân chăm sóc vườn ổi là sự lạm dụng mạng Internet. Internet là kênh để ngườ ta biết đến những kết quả lao động của anh với thứ ca nhạc kệch cỡm, lố bịch. 

Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là người đẩy “Lệ Rơi’ vào tấn bi kịch lại là công chúng. Khi công chúng xem video của “Lệ Rơi” thấy lạ nên họ thích và chia sẻ cho bạn bè điều đó. Họ không hề biết rằng, mỗi lần họ “Like” là họ đã góp sức để đẩy anh chàng “Lệ Rơi” vào tấn bi kịch ảo tưởng của chính anh. Anh cứ tưởng rằng nhiều người “Like” có nghĩa là anh thành công. Nhưng anh đấu biết đó là những cú đẩy anh dấn sâu vào tấn bi kịch hơn. Để anh nhanh vỡ mộng hơn.

Và cuối cùng, khâu quản lý của xã hội đang còn có một lỗ hổng. Hiện tượng “Lệ Rơi” giúp các nhà quản lý nhanh chóng khắc phục “sự cố” này. Sau hiện tượng “Lệ Rơi”, các nhà quản lý sẽ có kinh nghiêm hơn và các cơ quan chức năng cần sớm vào cuộc với sự việc tương tự để không có thêm một tấn bi kịch nào như này xảy ra nữa, để nền nghệ thuật Việt Nam không có những vết đen không đáng có.


24/07/2014
SỰ THẬT VỀ HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954!

SỰ THẬT VỀ HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954!

Kin Kin - Hội nghị Genève (Thụy Sỹ) khai mạc ngày 26/4/1954, mục đích ban đầu của hội nghị này là bàn về khôi phục hòa bình tại Triều Tiên và Đông Dương.  Phái đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến Thụy Sỹ dự Hội nghị Genève về Đông Dương do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu. Do vấn đề Triều Tiên không có kết quả, từ ngày 8/5/1954, Hội nghị Genève chuyển sang bàn về vấn đề Đông Dương. Quá trình đám phán diễn ra căng thẳng do lập trường của các bên còn cách biệt lớn. Chiến thắng Điện Biên phủ 7/5/1954 đánh bại ý chí duy trì Đông Dương là lãnh thổ thuộc Liên hiệp Pháp của Pháp, tác động rất lớn đến quá trình đàm phán tại hội nghị. Cuối cùng, sau hơn 2 tháng đấu tranh trên bàn đám phán, ngày 21/7/1954, Thiếu tướng Delteil thay mặt Bộ tư lệnh Quân đội Liên hiệp Pháp ở Đông Dương đặt bút ký Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Đông Dương. Người thay mặt Chính phủ và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam ký bản hiệp định là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu.
Các bên tham gia đàm phán tại Hội Nghị Genève (Thụy Sỹ) 1954
Các thế lực thù địch chống phá Việt Nam luôn xuyên tạc cho rằng Hiệp định Genève là hiệp định chia đôi đất nước Việt Nam. Vậy sự thật của Hiệp định Genève là gì?
Hiệp định Genève về Đông Dương năm 1954 có hai phần: Phần “Thỏa hiệp” và phần “Tuyên bố Cuối cùng” (Final Declaration).
Phần “Thỏa hiệp”, gồm 47 điều khoản, được ký kết giữa Henri Delteil, Quyền Tổng tư lệnh lực lượng Liên hiệp Pháp và Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng quốc phòng VNDCCH. Phần này có những điều khoản chính như sau:
- Thiết lập một đường ranh giới quân sự tạm thời tại vĩ tuyến 17 (Provisional Military Demarcation Line) để quân đội hai bên rút quân về: Lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam ở trên vĩ tuyến 17, lực lượng quân đội Liên hiệp Pháp (French Union), bao gồm lính Pháp và lính bản xứ ở dưới vĩ tuyến 17.

- Sẽ có một cuộc tổng tuyển cử tự do trên toàn cõi Việt Nam vào năm 1956. Quân đội Pháp phải rời khỏi Việt Nam trong 2 năm.
Bản “Tuyên bố cuối cùng” gồm 13 đoạn, nói đến cả sự thống nhất và độc lập của 3 nước Đông Dương, trong đó có một đoạn đáng để ý và cực kỳ quan trọng:
Đoạn (6) (Paragraph (6)) nguyên văn như sau:
“Hội Nghị nhận thức rằng mục đích chính yếu của Thỏa Hiệp về Việt Nam là dàn xếp những vấn đề quân sự trên quan điểm chấm dứt những đối nghịch quân sự và rằng ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ KHÔNG THỂ DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ HAY ĐẤT ĐAI. Hội Nghị bày tỏ sự tin tưởng là thi hành những điều khoản trong bản Tuyên Ngôn này và trong Thỏa Hiệp ngưng chiến sẽ tạo nên căn bản cần thiết để trong tương lai gần đạt tới một sự dàn xếp chính trị ở Việt Nam”.
Và phần đầu của đoạn (7) (Paragraph (7))nguyên văn như sau:
“Hội Nghị tuyên cáo rằng, về Việt Nam, sự dàn xếp những vấn đề chính trị, thực hiện trên căn bản tôn trọng những nguyên tắc về nền độc lập, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ khiến cho người dân Việt Nam được hưởng những quyền tự do căn bản, bảo đảm bởi những định chế dân chủ được thành lập như là kết quả của một cuộc tổng tuyển cử bằng phiếu bầu kín.” (sẽ tổ chức bầu cử vào tháng 7, 1956).
Có thể tổng kết nội dung cơ bản của Hiệp ước Genève về Đông Dương như sau:
·                       Các nước tham gia hội nghị tôn trọng quyền dân tộc cơ bản là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Việt Nam – Campuchia – Lào.

·                       Ngừng bắn đồng thời ở Việt Nam và trên toàn chiến trường Đông Dương.

·                       Sông Bến Hải, vĩ tuyến 17, được dùng làm giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam làm hai vùng tập kết quân sự. Chính quyền và quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (bao gồm cả người miền Nam) tập kết về miền Bắc; Chính quyền và quân đội Liên hiệp Pháp (bao gồm cả người miền Bắc) tập kết về miền Nam.

·                       300 ngày là thời gian để chính quyền và quân đội các bên hoàn thành việc tập trung. Dân chúng được tự do đi lại giữa hai miền.

·                       2 năm sau, tức ngày 20 tháng 7 năm 1956 sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do trong cả nước để thống nhất lại Việt Nam.

Thi hành Hiệp định Genève, Chính phủ ta tiến hành chuyển quân tập kết ra Bắc, hàng ngàn người con Nam bộ theo sự điều động của cách mạng đã tập kết ra miền Bắc với niềm tin và hy vọng chỉ sau hai năm sẽ được trở về quê hương yêu dấu. Không ai có thể hình dung được rằng mãi hai mươi năm sau họ mới lại được đặt chân về đôi bờ Đồng Nai, Vàm Cỏ, Cửu Long…
Nhưng đã không có cuộc tổng tuyển cử nào diễn ra được, Mỹ đã từ hậu trường nhảy ra sân khấu, xuyên tạc nội dung hiệp định và phá hoại việc thi hành hiệp định. Ém nhẹm, xuyên tạc những nội dung chính của hiệp định với người dân, phá hoại các điều khoản chính trong hiệp định, và nghiêm trọng nhất là điều khoản: “Đường ranh giới quân sự là tạm thời và không thể diễn giải bất cứ bằng cách nào đó là một biên giới phân định về chính trị hay đất đai”.
Người Mỹ vốn không ký vào hiệp định Genève 1954 để tránh bị ràng buộc pháp lý, bất lợi cho việc xâm lược và chia cắt Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của họ. Nhưng chính họ cũng đã “nói hớ” và vô tình cho thấy rằng hiệp định Genève 1954 không hề là hiệp định chia đôi Việt Nam.
Nhà sử học, chính trị học George McTurnan Kahin và John W. Lewis trong sách The United States in Vietnam: An analysis in depth of the history of America’s involvement in Vietnam (Hoa Kỳ ở Việt Nam: Một phân tích chuyên sâu về lịch sử can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam), do Delta Books xuất bản năm 1967, đã cho biết: “Trong bản Tuyên ngôn đơn phương (Unilateral Declaration) của Hoa Kỳ về Hội nghị Genève không có chữ nào nói đến “Bắc Việt Nam” hay “Nam Việt Nam”. Tất cả những gì mà bên đại diện Mỹ nói đến là một Việt Nam.

Những bằng chứng ở trên đã cho thấy hiệp định Genève 1954 không chia đôi đất nước, mà ngược lại chính là quy định việc thống nhất đất nước. Chính sự can thiệp và xâm lược miền Nam Việt Nam của Mỹ đã đưa đến sự chia đôi đất nước. Việc không có tổng tuyển cử và chia cắt Việt Nam là một sản phẩm của Mỹ. Còn danh từ “Nam Việt Nam” chỉ là một danh từ mang tính chất tuyên truyền giả dối mà người Mỹ dùng để gọi những chính quyền con đẻ của họ ở miền Nam Việt Nam.
KHÔNG ĐƯỢC PHONG TẶNG BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG VÌ… TÁI GIÁ?

KHÔNG ĐƯỢC PHONG TẶNG BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG VÌ… TÁI GIÁ?

Mực tàu - Theo phản ánh của báo Tuổi trẻ ngày 19/7, đó là trường hợp của bà Trần Thị M. (83 tuổi) là vợ của Liệt sĩ Võ Mười, quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh. Năm 1962 khi mới 30 tuổi, chồng bà M. đã anh dũng hi sinh. Hai năm sau (năm 1964), con trai út Võ Danh (6 tuổi) của bà bị bắn chết khi cảnh giới cho các chú cán bộ họp. Đến năm 1971, con trai lớn của bà là Võ Thái cũng hi sinh khi đang làm giao liên tại Ban binh vận Khu ủy Khu V, năm anh 16 tuổi. Ngoài ra, bà còn là thương binh hạng 2/4 (mất 75% sức khỏe) do bị tra tấn trong tù.

Còn lại một mình giữa đạn bom, sau hai lần bị bắt, giam cầm tra khảo ở nhà lao Quảng Ngãi, năm 1974 bà tái hôn với một người đồng đội là ông Thái Văn Thới.

Với những hi sinh to lớn đó của bà, chính quyền phường nơi bà cư trú đã có tờ trình gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) Q.Bình Thạnh, Sở LĐ-TB&XH TP.HCM đề nghị xét tặng danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng.  Tuy nhiên, sau đó gia đình bà nhận được thông báo bà chưa được lập hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu này do đã... tái giá.

Nghị định 56/2013 của Chính phủ đã quy định rất rõ ràng đối tượng được công nhận hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Nếu như trong Nghị định số 56/2013 của Chính phủ không nêu rõ trường hợp bà mẹ là vợ liệt sĩ đã lấy chồng khác được hay không được xem xét lập hồ sơ đề nghị phong tặng Bà mẹ VNAH thì đương nhiên bà M được phong tặng bà mẹ Việt Nam anh hùng. Tại sao Sở LĐ-TB&XH TP Hồ Chí Minh cố tình không hiểu hay không hiểu thật để làm tròn trách nhiệm với những người có công với đất nước.

Trong công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, đã có biết bao bà mẹ phải chịu nỗi đau mất chồng, mất con. Nỗi đau đó là không có gì bù đắp được, theo quan điểm cá nhân, việc tái giá hay không tái giá không làm thay đổi bản chất của sự hi sinh này, vì việc “tái giá” chỉ xảy ra sau khi những người chồng đã mất, thậm chí có trường hợp sau hàng chục năm.
 
Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt với những người có công với đất nước.
Bản thân họ phải mất đi chồng, con đã chịu nỗi đau tột cùng, việc họ đi tìm một hạnh phúc mới để xoa dịu đi nỗi đau, để cho cuộc sống bớt cô quạnh hơn chả nhẽ lại không được. Không lẽ chúng ta cứ phải bắt họ chịu đựng nỗi đau đó một mình cả đời thì mới là anh hùng?

Chi còn mấy ngày nữa là cả nước Kỷ niệm Ngày thương binh Liệt sỹ, rất mong các cơ quan ban ngành xem xét giải quyết. Đừng để người dân phải chờ đợi thêm nữa!

Nghị định 56/2013 của Chính phủ quy định:

Điều 2. Đối tượng được xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”
1. Những bà mẹ thuộc một trong các trường hợp sau đây được xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”:
a) Có 2 con trở lên là liệt sỹ;
b) Chỉ có 2 con mà 1 con là liệt sỹ và 1 con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
c) Chỉ có 1 con mà người con đó là liệt sỹ;
d) Có 1 con là liệt sỹ và có chồng hoặc bản thân là liệt sỹ;
đ) Có 1 con là liệt sĩ và bản thân là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81 % trở lên.
Người con là liệt sỹ là người đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng “Tổ quốc ghi công”, bao gồm con đẻ, con nuôi theo quy định của pháp luật.
Người chồng là liệt sỹ là người đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng “Tổ quốc ghi công” mà bà mẹ là vợ của người đó.
Thương binh quy định tại Điểm b, Điểm đ Khoản 1 Điều này là người đã được cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận thương binh, bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, bao gồm cả người còn sống và người đã từ trần.
Trường hợp bà mẹ có chồng, con tham gia hàng ngũ địch nhưng bà mẹ chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thì vẫn được xem xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước ‘‘Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.
2. Những trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này nhưng phản bội, đầu hàng địch, có hành động gây nguy hại cho cách mạng hoặc vi phạm pháp luật bị Tòa án xét xử bằng hình thức phạt tù mà bản án, quyết định của Tòa án đang có hiệu lực pháp luật (kể cả trường hợp được hưởng án treo) thì không được xét tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.